Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: Dựa trên những cơ sở khoa học, góp phần đảm bảo ATGT

Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: Dựa trên những cơ sở khoa học, góp phần đảm bảo ATGT
Qua 11 lần dự thảo, lấy ý kiến đóng góp của 64 Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế, các Bộ, ngành liên quan (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Lao động - TBXH…), ngày 30/9/2008, Bộ Ytế đã ban hành Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT, về việc ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT, về việc ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ người khuyết tật điều khiển xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người khuyết tật. Qua đó, nhằm thực hiện tốt Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ.

Ông Trần Quý Tường - Phó Cục trưởng Cục quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết: khi xây dựng bản tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và tiêu chuẩn sức khỏe người khuyết tật điều khiển xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người khuyết tật, Ban soạn thảo đã xây dựng theo phương pháp loại trừ, có nghĩa là chỉ nêu các chỉ số sức khỏe không đủ điều khiển xe (nêu các điều không được làm), còn lại là đủ điều kiện sức khỏe để lái xe (được làm các điều không cấm). Đây là phương pháp xây dựng văn bản tiên tiến hiện nay ở trên thế giới.

Bản tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được thiết kế riêng, tách ra khỏi tiêu chuẩn chung của các phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy nội địa và đường biển, đồng thời bản tiêu chuẩn này được bổ sung các tiêu chuẩn sức khoẻ cho từng loại phương tiện như xe gắn máy, mô tô, ô tô các loại, máy kéo… có tính đến lái xe chuyên nghiệp hay lái xe không chuyên nghiệp.

Nội dung về Tiêu chuẩn sức khỏe, gồm tiêu chí về thể lực và 13 nhóm tiêu chí về chức năng sinh lý, bệnh tật theo chuyên khoa. Tiêu chí về thể lực được chia làm 3 nhóm : nhóm 1 gồm lái xe hạng A2, C, D, E, F ; nhóm 2 gồm hạng A3, A4, B2 ; nhóm 3 gồm lái xe hạng B1, A1. Các tiêu chí về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, lực bóp tay, lực kéo thân của lái xe các hạng được kế thừa từ tiêu chí ban hành theo QĐ số 4132/2001/QĐ-BYT. Riêng tiêu chí về thể lực của lái xe A1 (xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ trên 50 cm3 đến dưới 175 cm3) được quy định mới. Người có chiều cao đứng dưới 1m45, cân nặng dưới 40kg, vòng ngực trung bình dưới 72cm, lực bóp tay thuận dưới 26kg, lực kéo thân dưới 70kg thì không được cấp phép lái xe hạng A1.

Các tiêu chí này được xây dựng trên các cơ sở khoa học là: Theo thông số kỹ thuật của một số xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ trên 50 cm3 đến dưới 175 cm3, thì chiều cao yên xe trung bình từ 74cm đến 76cm. Để đảm bảo ATGT, người điều khiển xe mô tô 2 bánh phải có chiều dài của chân tối thiểu là 75cm. Mà để có chiều dài của chân từ 75cm trở lên thì người đó phải có chiều cao đứng trên 1m45. Mặt khác, theo Viện Dinh dưỡng, chiều cao và cân nặng của người Việt Nam được cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây. Như vậy, việc quy định người có chiều cao dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được lái xe A1 là cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam. Cũng theo ông Tường thì: Tuy nhiên, hiện nay ở trên thế giới đã có các loại xe đặc thù được thiết kế dành cho người có chiều cao đứng thấp hoặc nhẹ cân. Khi nào, các loại xe đặc thù này được nhập, sử dụng ở Việt Nam, Bộ Y tế sẽ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để xem xét và quy định bổ sung các tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe cho phù hợp với thực tiễn.

Nhóm tiêu chí về chức năng sinh lý, bệnh tật theo 13 chuyên khoa cũng được chia làm 3 nhóm: nhóm 1 gồm lái xe hạng A2, A3, A4, B2, C, D, E, F; nhóm 2 gồm lái xe hạng B1; nhóm 3 gồm lái xe hạng A. Nhìn chung các tiêu chí này được quy định cụ thể, ngắn gọn hơn tiêu chí cũ, tập trung vào những yêu cầu cần thiết nhất đối với người điều khiển xe cơ giới, bỏ qua những mục khám không cần thiết, nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn sức khỏe để lái xe. Ví dụ như quy định về mắt, theo quy định cũ (QĐ số 4132/2001/QĐ-BYT) gồm các tiêu chí về thị lực, thị trường, sắc giác, mộng thịt, sẹo giác mạc, các bệnh ở mi mắt, viêm tắc lệ đạo mạn, lác mắt, cận viễn loạn thị, lão thị, các bệnh khác. Nhưng ở quy định mới chỉ có 3 nội dung là thị lực, thị trường và sắc giác; các bệnh khác ở mắt đều được xem xét có ảnh hưởng đến thị lực, thị trường và sắc giác là đầy đủ…

Về giấy chứng nhận sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới được thiết kế theo mẫu của giấy chứng nhận sức khỏe ban hành kèm theo TT số 13/2007/TT-BYT ngày 21/11/2007 của BYT; nội dung của giấy chứng nhận sức khỏe gồm các nội dung được quy định của bản Tiêu chuẩn này. Phần tiền sử bệnh tật được thiết kế cụ thể, chi tiết hơn. Người được khám sức khỏe phải trả lời 36 câu hỏi và phải ký, chịu trách nhiệm về nội dung trả lời phần tiền sử bệnh tật của mình. Vì tiền sử bệnh tật có liên quan nhiều đến việc đánh giá, khám xét sức khoẻ hiện tại mà trong một thời gian ngắn, bác sỹ khám không có điều kiện khai thác hết tiền sử, cần có sự phối kết hợp giữa người khám và người được khám. ở tất cả các mục khám các chuyên khoa được thiết kế đều có chữ ký của bác sỹ khám, để việc khám được chuyên sâu, kết quả chính xác, trung thực hơn.

Về điều kiện cơ sở y tế tham gia khám sức khỏe để cấp giấy phép lái xe, tất cả các cơ sở y tế nếu có đủ các điều kiện được các quy định tại QĐ này thì Giám đốc Sở Y tế tự quyết định việc tham gia khám sức khỏe để cấp giấy phép lái xe và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình, chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cấp có thẩm quyền.

Tiêu chuẩn sức khỏe này được áp dụng để khám sức khỏe cho người muốn có giấy phép điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, bao gồm khám tuyển và khám định kỳ. Nghĩa là, tiêu chuẩn này chỉ áp dụng đối với các trường hợp khám tuyển vào học lái xe, dự thi nâng hạng giấy phép lái xe, tuyển dụng lái xe, người đổi giấy phép lái xe. Các trường hợp đã có giấy phép lái xe hợp pháp thì đương nhiên vẫn được sử dụng giấy phép lái xe đó theo đúng quy định, không phải đi khám sức khỏe nếu không có yêu cầu theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tác giả bài viết: Phạm Yến

Nguồn tin: GTVT